Nhã Ngôn Thư Quán

Nhàn Tình Phú của Đào Uyên Minh: Phân Tích và Ý Nghĩa Tác Phẩm

25 tháng 05 2026
Trường Ca

     

      

    姿

















    調
    西







































    西




















    覿








































    Ôi! Dung nhan lộng lẫy lạ kỳ,
    Vẻ vô song giữa cõi người;
    Khoe sắc đẹp a khuynh thành,
    Từng nghe nết lành truyền đời.
    Ngọc leng keng a sánh vẻ trong,
    Cùng tranh thơm a đoá lan tươi;
    Tình dịu dàng a giữa cõi trần,
    Chí cao nhã a nơi mây xuôi.
    Than mặt trời a chiều dễ rụng,
    Ngậm ngùi a đau kiếp người;
    Thoáng trăm năm a trọn kiếp này,
    Sao lắm buồn mà ít vui!
    Vén trướng hồng a ngồi ngay ngắn,
    Dạo đàn trong a ai tự cười,
    Ngón thon đưa a nhanh thoăn thoắt,
    Tay áo múa a trắng bời bời;
    Mắt chớp động a như xao sóng,
    Miệng như nói a hay như cười.
    Nhạc ngân nửa khúc,
    Chiều lặn hiên tây,
    Gió thu rừng động,
    Mây núi nương trôi.
    Ngẩng xem thiên không,
    Cúi giục đàn cầm,
    Thần thái cương nghị,
    Cử chỉ thảnh thơi.
    Tiếng trong kia a sao giục lòng,
    Muốn kề vai a ta trao lời.
    Muốn được cùng a ta thề nguyền,
    Lễ vật mọn a nên ngậm ngùi
    Phượng hoàng bay a ta ngỏ ý,
    Đến trước ta a e có người.
    Hồn điên đảo a biết bao lần,
    Lòng thấp thỏm a không nguôi.
    Ước được làm cổ áo
    Son phấn hưởng dư hương.
    Ngủ, áo nàng lại cởi
    Sao tối mãi đếm trường!
    Ước được làm đai xiêm
    Bó sát eo lưng nhỏ.
    Oán thời tiết thất thường
    Xiêm thay mới nới cũ!
    Nguyện làm dầu chải tóc
    Đen nhánh xoã vai thon
    Trách người đẹp năng gội
    Nước cuốn đi chẳng còn!
    Nguyện làm chỉ kẻ mày
    Theo mắt huyền nghiêng ngửa.
    Trang điểm chuộng tân kỳ
    Sợ rồi nàng lại bỏ!
    Nguyện làm chiếc chiếu cỏ
    Ba thu lót thân mềm.
    Đông về thay đệm ấm
    Chiếu năm sau mới cần!
    Nguyện thành tơ làm dép
    Ôm chân trắng nõn nường.
    Buồn thay đi rồi nghỉ
    Lại tháo quẳng đầu giường!
    Ước được như chiếc bóng
    Bám nửa bước chẳng rời
    Buồn thay cây rộng tán
    Bóng phải từ giã người!
    Ước được như nến đèn
    Soi mặt ngọc đêm đêm.
    Buồn khi ánh dương lên
    Nến đèn như vụt tắt!
    Ước thành tre làm quạt
    Gió mát phẩy tay ngà.
    Tinh mơ sương điểm giọt
    Tay quạt lại lìa xa!
    Ước thành đàn ngô đồng
    Luôn gối đầu tay ấp.
    Hết vui thôi lại buồn
    Tiếng tơ rồi cũng dứt!
    Bao nhiêu ước nguyện chẳng thành
    Khổ tâm rốt cuộc chung tình vẫn không.
    Lòng dàu dàu không nơi tỏ,
    Bước bối rối giữa rừng nam.
    Ẩn tùng xanh ngằn ngặt bóng,
    Ta nằm lẫn dưới lan tàn.
    Thảng bồi hồi tưởng gặp gỡ,
    Lòng sung sướng thoắt hoang mang.
    Mà dáng em rồi biến mất,
    Riêng nhớ nhung luống bàn hoàn.
    Xốc lại áo về đường cũ,
    Trông bóng chiều mãi thở than.
    Về chốn nào chăng biết nữa,
    Thân đau khổ mặt u tàn.
    Lá rào rào lìa cành gió,
    Trời trong trẻo khí lạnh sang.
    Mặt trời kia đã chìm bóng,
    Trăng vẫn chiếu rỡ phong quang.
    Chim bay đi kêu cô độc,
    Thú tìm đôi chửa quy hoàn.
    Ta thương ta già đã đến,
    Hận trai tráng vút bóng câu.
    Ta thấy ta theo em đó,
    Đến nỗi tim a dàu dàu.
    Như lên thuyền chèo rơi mất,
    Như leo núi chẳng dây leo.
    Lúc đó:
    Tinh tú đầy song,
    Gió bắc lạnh lẽo,
    Bồn chồn không ngủ,
    Ngàn mối vấn vương.
    Dậy mặc xiêm đợi trời sáng,
    Rờ rỡ ngắm lúc tinh sương.
    Gà thu cánh mà chẳng gáy,
    Sáo trong trẻo mà thê lương,
    Mới nhỏ nhẹ và hiền hoà,
    Sau réo rắt rồi chán chường.
    Ta tưởng như em ở đây,
    Dạo Hành vân trút yêu thương
    Mây bay xa mà lặng lặng,
    Đời vụt vụt đang trôi qua.
    Lại nhớ nhung lại sầu thảm,
    Núi ngăn trở sông thiết tha;
    Đón gió mát bớt phiền luỵ,
    Gửi chút tình nơi nước sa.
    Nào dám trách chuyện hò hẹn,
    Hát tiếp bài “Thiệu nam” ca;
    Tỏ băn khoăn lòng thành ấy,
    Mà nhắn nhủ chút tình xa.


    Trong bài dịch này, Nguyễn Khắc Phi vốn đã trích dịch mười điều ước, đăng ở tuần báo Văn nghệ ngày 7-3-1998, và in trong Thơ văn cổ Trung Hoa - Mảnh đất quen mà lạ (NXB Giáo Dục, 1999). Các đoạn phú do Trần Trọng Dương dịch bổ sung.

    Nhàn tình phú

    Phù! Hà hoàn dật chi lệnh tư,
    Độc khoáng thế dĩ tú quần.
    Biểu khuynh thành chi diễm sắc,
    Kỳ hữu đức ư truyền văn.
    Bội minh ngọc dĩ tỷ khiết,
    Tề u lan dĩ tranh phân;
    Đạm nhu tình ư tục nội,
    Phụ nhã chí ư cao vân.
    Bi thần hy chi dị tịch,
    Cảm nhân sinh chi trường cần.
    Đồng nhất tận ư bách niên,
    Hà hoan quả nhi sầu ân.
    Khiên chu vi nhi chính toạ,
    Phiếm thanh sắt dĩ tự hân;
    Tống tiêm chỉ chi dư hảo,
    Nhương hạo tụ chi tân phân.
    Thuấn mỹ mục dĩ lưu miện,
    Hàm ngôn tiếu nhi bất phân.
    Khúc điệu tương bán,
    Cảnh lạc tây hiên.
    Bi thương khấu lâm,
    Bạch vân y san.
    Ngưỡng thê thiên lộ,
    Phủ xúc minh huyền.
    Thần nghi vũ mị,
    Cử chỉ tường nghiên.
    Kích thanh âm dĩ cảm dư,
    Nguyện tiếp tất dĩ giao ngôn.
    Dục tự vãng dĩ kết thệ,
    Cụ mạo lễ chi vị tuyên.
    Đãi phụng điểu dĩ trí từ,
    Khủng tha nhân chi ngã tiên.
    Ý hoàng hoặc nhi mị ninh,
    Hồn tu du nhi cửu thiên.
    Nguyện tại y nhi vị lĩnh,
    Thừa hoa thủ chi dư phương;
    Bi la khâm chi tiêu ly,
    Oán thu dạ chi vị ương.
    Nguyện tại thường nhi vị đới,
    Thúc yểu điệu chi tiêm thân;
    Ta ôn lương chi dị khí,
    Hoặc thoát cố nhi phục tân.
    Nguyện tại phát nhi vị trạch,
    Loát huyền mấn ư đồi khiên;
    Bi giai nhân chi lũ mộc,
    Tòng bạch thuỷ dĩ khô tiên.
    Nguyện tại my nhi vị đại,
    Tuỳ chiêm thị dĩ nhàn dương;
    Bi chỉ phấn chi thượng tiên,
    Hoặc thủ huỷ ư hoa trang.
    Nguyện tại hoàn nhi vị tịch,
    An nhược thể ư tam thu;
    Bi văn nhân chi đại ngự,
    Phương kinh niên nhi kiến cầu.
    Nguyện tại ty nhi vị lý,
    Phụ tố túc dĩ chu toàn;
    Bi hành chỉ chi hữu tiết,
    Không uỷ khí ư sàng tiền.
    Nguyện tại trú nhi vị ảnh,
    Thường y hình nhi tây đông;
    Bi cao thụ chi đa ấm,
    Khái hữu thì nhi bất đồng.
    Nguyện tại dạ nhi vị chúc,
    Chiếu ngọc dung ư lượng doanh;
    Bi phù tang chi thư quang,
    Yểm diệt cảnh nhi tàng minh.
    Nguyện tại trúc nhi vị phiến,
    Hàm thê tiêu ư nhu ác;
    Bi bạch lộ chi thần linh,
    Cố khâm tụ dĩ miến mạc.
    Nguyện tại mộc nhi vị đồng,
    Tác tất thướng chi minh cầm;
    Bi lạc cực dĩ ai lai,
    Chung thôi ngã nhi chuyết âm.
    Khảo sở nguyện nhi tất vi,
    Đồ khiết khiết dĩ khổ tâm.
    Ủng lạo tình nhi võng tố,
    Bộ dung dữ ư nam lâm.
    Thê mộc lan chi di lộ,
    Ế thanh tùng chi dư âm.
    Thảng hành hành chi hữu địch,
    Giao hân cụ ư trung hào.
    Cánh tịch mịch nhi vô kiến,
    Độc quyên tưởng dĩ không tầm.
    Liễm khinh cư dĩ phúc lộ,
    Chiêm tịch dương nhi lưu thán.
    Bộ tỷ ỷ dĩ vong thú,
    Sắc thảm thê nhi căng nhan.
    Diệp tiếp tiếp dĩ khứ điều,
    Khí thê thê nhi tựu hàn.
    Nhật phụ ảnh dĩ giai một,
    Nguyệt mị cảnh ư vân đoan.
    Điểu thê thanh dĩ cô quy,
    Thú tác ngẫu nhi bất hoàn.
    Điệu đương niên chi vãn mộ,
    Hận tư tuế chi dục đàn.
    Tư tiêu mộng dĩ tòng chi,
    Thần phiêu diêu nhi bất an.
    Nhược bằng chu chi thất trạo,
    Thí duyên nhai nhi vô phan.
    Vu thì tất mão doanh hiên,
    Bắc phong thê thê.
    Quốc quốc bất mị,
    Chúng niệm bồi hồi.
    Khởi nhiếp đới dĩ tứ thần,
    Phồn sương xán ư tố giai.
    Kê liễm sí nhi vị minh,
    Địch lưu viễn dĩ thanh ai,
    Thuỷ diệu mật dĩ nhàn hoà,
    Chung liêu lượng nhi tàng tồi.
    Ý phù nhân chi tại tư,
    Thác hành vân dĩ tống hoài.
    Hành vân thệ nhi vô ngữ,
    Thì yểm nhiễm nhi tựu quá.
    Đồ cần tư dĩ tự bi,
    Chung trở sơn nhi đới hà.
    Nghinh thanh phong dĩ khư luỹ,
    Ký nhược chí ư quy ba.
    Vưu “Mạn thảo” chi vi hội,
    Tụng “Thiệu nam” chi dư ca.
    Thản vạn lự dĩ tồn thành,
    Khế dao tình ư bát hà.


    Lời dẫn: “Sơ, Trương Hành tác Định tình phú, Sái Ung tác Tĩnh tình phú, kiểm dật từ nhi tông đạm bạc. Thuỷ tắc đãng dĩ tư lự, nhi chung quy nhàn chính. Tương dĩ ức lưu đãng chi tà tâm, lượng hữu trợ ư phúng gián. Xuyết văn chi sĩ, dịch đại kế tác, tịnh nhân xúc loại, quảng kỳ từ nghĩa. Dư viên lư đa hạ, phục nhiễm hàn vi chi. Tuy văn diệu bất túc, thứ bất mậu tác giả chi ý hồ?” 初,張衡作《定情賦》,蔡邕作《靜情賦》,檢逸辭而宗淡泊。始則蕩以思慮,而終歸閑正。將以抑流宕之邪心,諒有助於諷諫。綴文之士,弈代繼作,並因觸類,廣其辭義。余園閭多暇,復染翰為之,雖文妙不足,庶不謬作者之意乎? (Trước, Trương Hành làm Định tình phú, Sái Ung làm Tĩnh tình phú, xem ra lời phóng khoáng nhưng chủ trương thanh bạch. Mới đầu thì tư tưởng phóng khoáng, mà khi kết thúc quay về nhàn nhã, ngay thẳng. Muốn ngăn ngừa lòng tà phóng đãng, như thế đại khái đã giúp cho việc can gián vậy. Những kẻ viết văn, nối đời kế tiếp nhau, đều nhân xúc cảm, từ nghĩa rộng mở. Ta sống điền viên nhàn rỗi, nhiễm thói bút mực, tuy văn không đủ khéo, mong không nói bậy ý của tác giả?)
    Viết bình luận của bạn

    Tin liên quan

    Messenger